Cùng thời với Trương Vĩnh Ký và sau đó, còn có những ai cũng tích cực biên soạn sách giáo

Chúng ta có thể kể đến Trương Minh Ký, Hiệu Mai Nham, Tự Sĩ Tải (1855 - 1900) vốn là chủ bút tờ Gia Định báo giai đoạn 1881 - 1897. Ông đã biên soạn các tập sách giáo khoa như Tập dạy học tiếng Phansa và tiếng An Nam (1892), Ấu học khải mông (1892), Hiếu kinh diễn nghĩa (1893), Tiểu học gia ngôn diễn nghĩa (1896), Cổ văn chơn bửu (1896), Tiểu học gia ngôn (1896), Hán học tân lương (1899) …

 

Ta cũng không thể quên các ông Trần Phong Sắc, Huỳnh Tịnh Của V.V… Đặc biệt Trần Phong Sắc đã biên soạn quyển Ấu viên tất độc (1924) để dạy cho các học trò nữ “Các trò nữ, đừng nhượng trí trai, vì trai gái cũng vậy, bền chí dày công hơn, việc chi người làm đặng, thời mình phải đặng”, trong sách có chữ Hán, kèm theo phiên âm và dịch nghĩa. Chẳng hạn đây là bài học thứ 88 có tựa là Trung:
Trung ngôn nghịch nhĩ lợi ư hành
Lời nói ngay, tuy trái tai, mà lợi nên việc làm
Người hỏi con mình phải nói ngay
Thuốc hay đắng miệng để ơn dày
Chẳng nên vị mặt buông lời nịnh
Mật miệng gươm lòng hổ thẹn thay
Và chúng ta còn phải kể đến một số nhà giáo cũng đã biên soạn các tập sách giáo khoa khác. Trước hết, xin giới thiệu quyển Morale Pratique à I’usage des Elève des Ecoles del Indochine (Đạo đức thực hành dùng (dạy) cho học trò ở các trường Đông Dương). Phía trên có ghi dòng chữ bằng tiếng Hán là Phong hoá thực hành. Sách này khổ 15 x 24 cm do ông J.C Boscoq- giáo sư ngôn ngữ phương Đông - biên soạn với sự công tác của ông Nguyễn Văn Tâm - giáo sư trường trung học Mỹ Tho. Sách này do Imprimerie de I’union, 157 đường Catinat, Sài Gòn, xuất bản năm 1914. Trong sách gồm có 108 bài tập đọc, cuối mỗi bài đều có câu kết luận “sách có câu rằng” hoặc “tục thường nói rằng” với một câu chữ Hán có phiên âm. Dịch nghĩa và kết thúc một bài học là phần “bài tập đối đáp”. Xin trích bài số 1 Phong hoá cũng là bài tựa chung cho tập sách giáo khoa này:
“Con trẻ! Nơi trường bây học văn chương nghĩa lý, bá công chư nghệ. Vậy cũng chưa đã mà ở đời. Muốn rõ đạo làm người phải biết Phong hoá mới được
Sách Phong hoá dạy ta biết phân điều trái phải, lẽ tà chánh, cuộc ngay gian; bày rõ ràng đạo làm người; chỉ rạch ròi diều phải sự quấy, đặng lấy đó làn gương soi mình; dạy cho đến cách ăn ở đời thế nào cho xứng phận xứng duyên, cuối cùng là phải làm sao cho hiệp lương tâm
Ới các con! Ta cố ý đặt sách này ra cho bây. Vậy bây phải xem đọc kỹ càng, hầu sau đặng nên danh con thảo cũng người thuần đức.
Hiền xưa có nói rằng
Ngọc bất trác, bất thành khí
Nhân bất học, bất tri lý
Nghĩa là:
Không giồi ngọc chẳng ra chi
Người mà không học thị phi đâu tường
Hoặc bài thứ 9 có tựa “Từ mẫu”
“Con trẻ! Ở đời có ai thương con bằng mẹ? Tình mẹ lài láng như sông như biển. Vì con mà vong thế mọi việc; coi con như vàng như ngọc; lo từ bữa ăn giấc ngủ cho con
Khi bây bé thơ, dạy nói từ tiếng, tập đi từ bước. Bây có vinh quang sức mẩy, chơn chạy không bén đất, quên ăn quên ngủ, ngày đêm chẳng rời
Ai săn sóc con cho bằng mẹ? Ngày nay mà bây còn thấy đất trời, cũng nhờ chưng có mẹ
Ớ con trẻ! Hãy thương me bây cho hết lòng và lo đền ơn; thập ngoạt hoài thai, lưu niên nhũ bộ
Nghĩa là:
Mười tháng đợi mang bây trong bụng, ba năm lo mớm bú
Trong 108 bài, chỉ tìm được một bài duy nhất ca ngợi nước Pháp. Đó là bài số 108 viết về Kinh thành Paris với câu kết luận: “Thành Paris như cái đẩu tinh chói khắp thế gian. Trẻ An Nam! Bây phải thương nước Langsa là nước bảo hộ bây” (trang 104)
Quyển sách giáo khoa thứ hai là Hán tự quy giản, khổ 12 x 18cm, 56 trang, ngoài bìa ghi chữ Hán và “Đ. Hồ ngọc cẩm đã dọn”. Sách này in ở đâu? Ngoài bìa ghi rõ “Hong Kong - Imprimerie de là Société des Mission - Etrangères”. Điều này không lạ, theo Việt Nam văn học sử yếu của cụ Dương Quảng Hàm thì thời đó sách viết bằng chữ Quốc ngữ đã được in không chỉ ở Hong Kong, mà còn ở Là Mã, Bengale (Ấn Độ) hoặc ở Bangkok (Sđd- Trang 352 - Nhà Xuất Bản Đồng Tháp tái bản 1993). Trong lời tựa, tác giả cho biết “mượn ít nhiều trong sách thầy Prémare và thầy Chouzy cùng thêm một ít điều khác mà dọn ra quyển mẹo này, để giúp những kẻ biết tiếng Latinh hay tiếng Langsa, đặng theo đó mà học chữ Nho cho dễ” và kết luận: “vậy nên học trò phải học cho rõ ràng ý tứ mấy chữ ấy để hiểu sách cho nhằm và đặt bài cho trúng theo phép chữ Nho” (trang 3). Sách biên soạn dễ hiểu, ví dụ ở bài 1 “về article đặt trước” như Le, La, Les trong tiếng Langsa hay con cái, đều, … trong tiếng An Nam thì trong chữ Nho quen dùng ba ba chữ kỳ, chi và giả
Quyển thứ ba là Ấu học bị thế. Ngoài bìa phía trên cùng ghi “các sách học mới để ở các trường ở Đông Dương dùng - ông Henri le Bris - Đốc học trường Pháp Việt Thừa Thiên soạn. Sửa lại theo tiếng Nam Kỳ đặng thông dụng trong các trường làng và trường tổng”. Sách này khổ 13x21,5cm, 136 trang, do lmprimerie commerciale, C.Ardin et Files xuất bản năm 1916 tại Sài Gòn. Sách giáo khoa này gồm 160 bài học, chia làm 8 phần: thân thể; vệ sinh; loài vật; cây cối; đất, đá, kim loại; trời, đất, địa cầu; xứ Nam Kỳ và các xứ lân cận đại Pháp; xứ Nam Kỳ, dân số, sử ký; nói về cách chánh trị trong Nam Kỳ. Ở cuối mỗi bài đều có câu hỏi dành cho học trò, và những bài địa lý đều có in bản đồ. Bài viết dễ hiểu, ngắn gọn. Để các bạn nắm được văn phong thời đó, xin trích lại bài số 13 có tựa Ghẻ:
“Anh em bạn học tôi tên là Mít có nhiều ghẻ; nó gãi hoài. Khi đầu, ở trường chỉ có một mình nó có ghẻ mà thôi, sau lại trò Tư và trò Năm cũng có ghẻ nữa. Thầy tôi bảo ba trò đó ở nhà kẻo lây ghẻ cho các trò khác. Hôm qua trò Mít đến học mà đã lành ghẻ rồi, thầy tôi hỏi làm sao mà mau lành như vậy. Trò Mít trả lời rằng: cách tám ngày rày ông thầy thuốc Tây có đi đến làng tôi; người biểu tôi lấy xa bông đen mà tắm, mỗi ngày phải lấy thuốc gián vàng của người cho mà thoa lên chỗ có ghẻ. Đương lúc ấy tôi mặc áo cũ. Mẹ tôi đem trụng mấy cái áo của tôi thường mặc. Khi ghẻ lành rồi, tôi mặc áo quần sạch sẽ. Mẹ tôi lấy mà nấu mấy áo dơ đi, lấy nước sôi mà rửa cái giường tôi nằm và đem ra phơi nắng. Tôi hết đau ghẻ đã được ba ngày rày, không còn một mụt ghẻ nào nữa. Chị tôi và thằng đầy tớ tôi cũng có ghẻ, mà cũng làm như vậy, rồi cũng nhẹ ghẻ hết
Thầy tôi khen trò Mít mà nói rằng: “như trong mình và áo quần sạch sẽ luôn luôn thì không bao giờ có ghẻ”
Câu hỏi: - Ghẻ có lây không? Phải làm sao cho khỏi ghẻ? - Nếu có ghẻ thì phải làm gì cho hết ghẻ?
Cách dạy: Như có nhiều học trò có ghẻ, thì thầy phải khuyên cha mẹ của chúng nó mua thuốc Pommade d’Helmerich và xà bông đen giá không bao nhiêu tiền”
Quyển Morale et lecons de choses a l’usage des élèves des é coles de l’ lmdochine của J.C.Boscq, do lmprimerie de l’union 157 Rue Catinat in tại Sài Gòn năm 1919, khổ 23,5 x 50cm, dày 51 trang cũng dành cho học trò tiểu học. Sách dạy bổn phận làm con, thú vật trong nhà nuôi, trái đất, thân thể người ta, đồng hồ, biển,… văn phong ngắn gọn, dễ hiểu và có tranh minh hoạ đẹp nhất, lấy từ sách giáo khoa của Pháp chứ không phải do hoạ sĩ của ta minh hoạ. Xin trích một bài: “Mặt nhựt- nhựt thực” như sau: “Mặt nhựt chiếu sáng trái đất cũng làm cho ấm
Mặt nhựt lớn hơn trái đất một triệu ba mươi muôn lần. Ta thấy, mặt nhựt nhỏ lắm tại ta cách xa quá
Mặt nhựt ở xa trái đất ba mươi bảy triệu dăm tây
Ta xem ra thì hình như mặt nhựt xoay xung quanh trái đất. Mà thực sự ra, là trái đất xoay chung quanh mặt nhựt.
Có khi mặt nguyệt áng mặt nhựt không cho chiếu thấu trái đất. Khi ấy mặt nguyệt ở chính giữa còn mặt nhựt và trái đất đứng đồng với nhau một hàng chữ nhất. Không có ánh sáng mặt nhựt thì trái đất phải tối, gọi là “nhựt thực””(trang 16)
Nhà Nho Nguyễn An Khương có biên soạn quyển Mông học thê giai, ngoài bìa sách có ghi “Cours de morale et lecon des choses à l’usage des écoles familles annamites” (những bài giảng đạo đức và những bài học thường thức dùng trong nhà trường và gia đình người An Nam). Sách này do Phát Toàn, Libraire - Imprimeur, 55 - 57 - 59 Đường Ormay (Sài Gòn) in tháng 10 - 1910. Sách in khổ 13x21 cm, 56 trang. Tác giả có nêu rõ mục đích của mình trong lời tựa (xin trích nguyên văn, kể cả lỗi chính tả để thấy được văn phong thời đó):
“Từng nghe: nghĩa lý trong thiên hạ thì rất rộng. Mà điều thấy biết của trẻ con thì có chừng; nếu dạy vượt đến chỗ cao xa, thì ắt nó không hiểu chi cả”.
“Tôi đã thấy điều ấy rồi, cho nên mới góp các sách tập đọc bên phương Tây và mót những lời thánh nhơn để lại, lấy điều đức dục, trí dục và thể dục làm ba mối lớn mà đặt sách này, gọi là sách Mông học thê giai, đặng cho các học trò nhỏ bắt chước theo đây, thì ngày sau trở nên người tốt cũng dễ. Ấy cũng là một điều giúp cho chúng nó lên chỗ cao xa như vậy” (trang 4) ở cuối mỗi bài học thầy đều cho in nghiêng những lời răn dạy - như tóm tắt nội dung của từng bài. Chẳng hạn đây là bài học thứ 51 có tựa Thằng Học: “Thằng Học mới có năm tuổi, cha nó buôn bán ở nơi xa, mẹ nó làm thơ gởi thăm, nó coi một hồi rồi cũng lấy giấy vẽ bậy vẽ bạ, trao cho mẹ nó mà rằng: “xin mẹ gửi thơ này cho ba tôi”. Mẹ nó cười rằng: “Con viết như vậy, cho con đọc không đặng đâu”. Thằng Học hỏi: “Vậy chớ viết làm sao cho cha tôi đọc đặng”. Mẹ nó nói: “Nếu con muốn viết cho cha con đọc đặng, thì con phải đi học đã, rồi sau sẽ viết”. Thằng Học hỏi: “Đi học tại đâu?”. Tại trường học là chỗ hôm trước con thấy học trò đương học om sòm đó”. Thằng Học nói: “Vậy thì để mai xin mẹ dạy sớm, dắt con đến đó cho con học”. Mẹ nó rất mầng. Rạng dắt con tới trường mà cho học.
Đứa con nít mới có năm tuổi mà biết ham học, đặng có gửi thư cho cha, mấy đứa lớn tuổi hơn nó phải gắng chí học hành, mới biết chữ mà gởi thư cho cha mẹ cùng với thân bằng cố hữu; nếu để dốt nát, cậy mượn người ta ắt để chúng chê cười, mà lại người viết thơ đó có hiểu rõ tâm sự của mình nữa. ấy cũng là một điều hại lớn”.
Qua một vài tài liệu ít ỏi trên, ta có thể nhận thấy cách biên soạn sách giáo khoa thuở ấy, theo năm tháng đã có những thay đổi đáng kể nhất về phương pháp biên soạn. Từ chỗ chỉ trích, giải thích về luân lý, đạo đức, các nhà giáo dần dần lồng nó vào một mẫu chuyện ngắn để học trò dễ nhớ và cũng dễ tiếp thu hơn. Có lẽ, sau này khi biện soạn Quốc văn giáo khoa thư (do Nha học chính Đông Pháp xuất bản), nhóm tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc Và Đỗ Thận cũng biên soạn theo hướng trên. Nghĩa là bài tập đọc dành cho học sinh viết ngắn gọn, dễ hiểu và mẫu chuyện trong sách thỉnh thoảng nhân vật có đối đáp qua lại để nêu rõ ý nghĩa giáo dục. Và không thể phủ nhận rằng những mẫu chuyện như thế đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thê hệ học sinh. Nhiều ngươi đến đầu đã bạc mà vẫn còn nhớ những bài học trong Quốc văn giáo khoa thư là một minh chứng.

TTTH